Vấn đề sử dụng hợp lư và tiết kiệm
điện đă được Tập đoàn Điện lực Việt Nam tuyên truyền, vận động qua các phương
tiện thông tin đại chúng, song hiệu quả xem ra vẫn c̣n trong dự báo. Với ngành
nông nghiệp, chúng ta đă có dịp đề cập trong một số bài trên tạp chí này. Ở đây,
chúng tôi muốn nêu một giải pháp, về phương diện kỹ thuật, không phải là mới so
với các nước tiên tiến và trong công nghiệp, nhưng lại rất cần cho các cơ sở sản
xuất nông nghiệp đang sử dụng các động cơ điện không đồng bộ công suất vừa và
lớn.
Hệ thống truyền động điện cho máy công tác hoặc các dây chuyền sản xuất phục vụ
sản xuất nông nghiệp đă sử dụng phổ biến động cơ điện xoay chiều ba pha không
đồng bộ loại roto lồng sóc hay c̣n gọi là động cơ cảm ứng. So với các loại động
cơ điện khác (động cơ điện đồng bộ, động cơ điện một chiều) th́ động cơ không
đồng bộ có nhiều ưu việt như: kết cấu đơn giản, dễ sử dụng, độ bền cao, giá đầu
tư thấp.
Nhưng nếu sử dụng thiết bị để điều khiển loại đơn giản
th́ động cơ không đồng bộ lại tồn tại một số nhược điểm như:
-
Ḍng điện khởi động rất lớn, gấp 4-6 lần ḍng điện định
mức của động cơ, thậm chí c̣n cao hơn đặc biệt ở những máy luôn có tải
thường trực như máy bơm nước, quạt ly tâm, máy nén khí, băng tải, máy nghiền
búa... Điều này đă gây ảnh hưởng xấu tới những máy khác đang vận hành đồng
thời và giảm tuổi thọ động cơ điện.
-
Tốc độ ṿng quay của động cơ điện cảm ứng chỉ được điều
khiển theo từng cấp (hữu cấp); thông thường mỗi động cơ chỉ thay đổi được
một trong các dăy tốc độ đồng bộ như: 3.000 - 1.500vg/ph; 1.500 - 1.000vg/ph
và 1.000 - 750 vg/ph, trong khi có những công nghệ sản xuất yêu cầu hệ thống
truyền động cần được điều khiển tốc độ liên tục (vô cấp) theo mô men và phụ
tải thay đổi nên hệ truyền động điện trên không có khả năng đáp ứng.
Để khởi động và dừng động cơ điện không đồng bộ công suất vừa
và lớn thông thường các cơ sở sản xuất sử dụng phương pháp khởi động trực tiếp
(qua cầu dao hoặc áp tô mát) nên gây sụt áp trên đường dây khá lớn. Cơ sở sản
xuất có điều kiện th́ sử dụng thiết bị “khởi động sao/tam giác (U/D)”... đă hạn
chế được ḍng điện khi khởi động nên độ sụt áp và tổn hao điện năng trên đường
dây giảm đáng kể. Tuy nhiên, với phương pháp “cổ truyền” không thể phù hợp với
xu thế sản xuất hàng hóa chất lượng cao theo công nghệ tiên tiến và tỷ lệ tổn
thất điện năng trên toàn hệ thống vẫn c̣n khá cao.
Gần đây, nhiều cơ sở sản xuất có công suất tiêu thụ điện lớn như các trạm bơm
nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, xí nghiệp sản xuất và chế biến nông hải sản,
hoa quả ... đă sử dụng thiết bị “khởi động mềm”. Khởi động mềm là thiết bị điện
tử chỉ thay thế cho phương pháp khởi động “sao/tam giác” nhằm giảm ḍng điện khi
khởi động, nhưng không có khả năng điều khiển tốc độ động cơ. Khởi động mềm
thường kết hợp với động cơ điện không đồng bộ công suất trung b́nh và lớn nhưng
không đ̣i hỏi phải thay đổi số ṿng quay, ví dụ một số thiết bị và máy như: bơm
nước nông nghiệp, quạt thông gió trong kho bảo quản, máy nghiền thức ăn chăn
nuôi ...
Do sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật vi điện tử và điện tử công suất nên ngày
càng có nhiều loại thiết bị điều khiển động cơ điện không đồng bộ với các chức
năng hoàn hảo (thuận tiện trong sử dụng, an toàn và có khả năng tiết kiệm điện
tối đa) mà “ biến tần AC ” là một điển h́nh. Biến tần là bộ nguồn bán dẫn điều
khiển kết hợp với động cơ không đồng bộ xoay chiều ba pha để thực hiện khởi động/dừng
và điều chỉnh chính xác số ṿng quay động cơ theo yêu cầu công nghệ. Có nhiều
loại biến tần được thiết kế phù hợp với dẫy động cơ công suất từ rất nhỏ (vài
trăm Woat) đến hàng 100kW.
Nguyên lư làm việc:
Tốc độ đồng bộ (chưa tính đến độ trượt s) của động cơ không đồng bộ xoay chiều
ba pha được tính: n = 60f/p (vg/ph).
Ở đây f - tần số lưới điện 50Hz (một số quốc gia trên thế giới có tấn số f =
60Hz);
p - số cặp cực từ trên stato động cơ.
Stato được quấn theo số cặp cực: p = 1, 2, 3 và 4; tương ứng với tốc độ đồng bộ:
n = 3.000, 1.500, 1.000 và 750 vg/ph. Thông thường mỗi động cơ chỉ có thể được
thiết kế để làm việc ở hai tốc độ đồng bộ. Ví dụ: từ n = 3.000 á 1.500vg/ph; n =
1.500 á 1.000vg/ph, ... Nếu động cơ được quấn với nhiều tốc độ th́ phức tạp dẫn
đến giá thành không dễ chấp nhận.
Mặt khác, việc thay đổi số cặp cực (p) chỉ đạt được một tốc độ rất hạn chế ,
nhiều trường hợp không phù hợp công nghệ sản xuất. V́ vậy, dựa vào công thức
tính (n), người ta có thể thay đổi tần số (f) ở nguồn vào động cơ, do đó tốc độ
động cơ sẽ được thay đổi theo để đạt giá trị mong muốn, thiết bị này được gọi là
bộ biến tần. Bộ biến tần phải thực hiện được các chức năng:
-
Biến đổi điện áp xoay chiều ba pha của nguồn điện vào
thành điện áp một chiều nhờ bộ chỉnh lưu cầu ba pha
-
Sau đó nhờ bộ nghịch lưu (INVERTER) sẽ đổi ngược lại
thành điện áp xoay chiều ba pha biến đổi theo phương pháp điều chế độ rộng
của xung
-
Kết quả là đầu ra của biến tần ḍng điện có dạng h́nh
sin, c̣n điện áp có dạng xung vuông nối tiếp nhau và tần số sẽ được điều
chỉnh tùy ư để được tốc độ theo công nghệ đă chọn.
Về ứng dụng:
Biến tần AC với công suất điều khiển lớn được sử dụng hiệu quả trong các trường
hợp như:
-
Điều khiển động cơ không đồng bộ công suất từ 15 đến trên
600kW với tốc độ khác nhau
-
Điều chỉnh lưu lượng của bơm, lưu lượng không khí ở quạt
ly tâm, năng suất máy, năng suất băng tải ....
-
Ổn định lưu lượng, áp suất ở mức cố định trên hệ thống
bơm nước, quạt gió, máy nén khí ... cho dù nhu cầu sử dụng thay đổi
-
Điều khiển quá tŕnh khởi động và dừng chính xác động cơ
trên hệ thống băng tải ...
Biến tần AC công suất nhỏ từ 0,18 á 14 kW có thể sử dụng để
điều khiển những máy công tác như: cưa gỗ, khuấy trộn, xao chè, nâng hạ ...
Với bơm và quạt ly tâm là những máy có mô men tải thay đổi theo tốc độ
ṿng quay như sau:
-
Lưu lượng (m3/h) tỷ lệ bậc nhất với tốc độ, Q1/Q2 =
n1/n2.
-
Áp suất (Pa) tỷ lệ b́nh phương tốc độ, H1/H2 = (n1/ n2)2.
-
Công suất điện tiêu thụ (kW) tỷ lệ lập phương với tốc độ,
P1/P2 = (n1/ n2)3.
Ở đây: Q1, H1, P1 - lưu lượng, áp suất và công suất điện
tương ứng với số ṿng quay định mức của động cơ ( n1= 2960, 1.460 vg/ph ...).
Q2, H2, P2 - lưu lượng, áp suất, công suất điện ứng với tốc độ ṿng quay được
điều chỉnh (n2<n1).
Từ đó dễ dàng nhận thấy, ở một số trường hợp mà công nghệ sản xuất đ̣i hỏi phải
điều chỉnh lưu lượng, áp suất ở động cơ máy bơm, hoặc quạt gió theo mức tải phù
hợp với từng thời điểm khác nhau th́ việc thay đổi tốc độ động cơ dẫn động được
xem là thích hợp nhất, đặc biệt tiết kiệm điện năng. Giải pháp này đă thay thế
cho phương pháp cổ truyền là khi cần thay đổi sự lưu thông chất lỏng hay chất
khí phải thông qua góc mở các van ở đầu vào hoặc đầu ra của đường ống.
Công suất điện tiêu thụ tỷ lệ với bậc ba của tốc độ, v́ thế giải pháp ứng dụng
biến tần là sự lựa chọn duy nhất cho khả năng tiết kiệm điện rất cao so với động
cơ làm việc với tốc độ không đổi (100% nđm).
Ví dụ: Thông số của động cơ bơm nước như sau: công suất định mức Pđm = P1 =
30kW, số ṿng quay định mức n1 = 2.960vg/ph. Khi cần điều chỉnh để giảm lưu
lượng hoặc áp suất bằng cách giảm tốc độ dưới định mức: n2 = 2.500vg/ph, th́
công suất tiêu thụ lúc này chỉ c̣n:
P2 = 30. (2.500/2.960)3 = 18kW, (P2 = 60% Pđm)
Nếu máy vận hành ở chế độ ít tải trong thời gian t ="15" h/ngày, điện năng có
thể tiết kiệm được so với không dùng biến tần : DA = 30.15 - 18.15 = 180kWh/ngày
Để tính lượng điện năng tiết kiệm do sử dụng biến tần với mức chính xác có thể
chấp nhận, ta sử dụng công thức tổng quát : DA = Ađm - Abt (kWh/ngày);
Trong đó:
-
Ađm = Pđm.t - điện năng tiêu thụ khi không dùng biến tần,
kWh/ngày
-
Abt = % Pđm. % t - điện năng tiêu thụ khi động cơ điện
được điều khiển bằng biến tần, kWh/ngày
-
t - thời gian máy hoạt động trong ngày, h/ngày.
Trong ví dụ trên, máy có thể hoạt động cả thời gian (t = 15h/ngày),
nhưng có khi làm việc với các phụ tải khác nhau (%Pđm) trong các khoảng thời
gian khác nhau như: t1 = 75%.15; t2 = 60%.15; t3 = 40%.15 ... th́ khả năng tiết
kiệm điện sẽ khả quan hơn.
Hiệu quả khi sử dụng :
Biến tần kết hợp với động cơ không đồng bộ đă đem lại những lợi ích sau:
-
Hiệu suất làm việc của máy cao
-
Quá tŕnh khởi động và dừng động cơ rất êm dịu nên giúp
cho tuổi thọ của động cơ và các cơ cấu cơ khí dài hơn
-
An toàn, tiện lợi và việc bảo dưỡng cũng ít hơn do vậy đă
giảm bớt số nhân công phục vụ và vận hành máy ...
-
Tiết kiệm điện năng ở mức tối đa trong quá tŕnh khởi
động và vận hành.
Ngoài ra, hệ thống máy có thể kết nối với máy tính ở trung
tâm. Từ trung tâm điều khiển nhân viên vận hành có thể thấy được hoạt động của
hệ thống và các thông số vận hành (áp suất, lưu lượng, ṿng quay ...), trạng
thái làm việc cũng như cho phép điều chỉnh, chẩn đoán và xử lư các sự cố có thể
xảy ra.
Điều cần lưu ư khi sử dụng bị biến tần điều khiển động cơ không đồng bộ:
Như đă nêu ở trên, ở đầu ra của biến tần chỉ có ḍng điện là
h́nh sin nhưng điện áp không phải là h́nh sin mà có dạng chuỗi xung vuông điều
biên nối tiếp nhau. Nếu khoảng cách nối dây cáp điện giữa động cơ và biến tần đủ
lớn sẽ xẩy ra hiện tượng quá điện áp (do hiện tượng phản xạ sóng điện áp), có
thể dẫn đến lăo hóa cách điện cuộn dây stato, giảm tuổi thọ thậm chí làm hỏng
động cơ. V́ vậy, khi lắp ráp phải chú ư sao cho dây cáp càng ngắn càng tốt, đặc
biệt đối với động cơ công suất vừa và nhỏ (thường có trở kháng đáp ứng xung lớn
hơn so với trở kháng đáp ứng xung của cáp nối).
Kết luận
Với tính năng vượt trội của biến tần, ngoài việc cải thiện khả năng điều khiển
của hệ thống máy c̣n đem lại hiệu quả tiết kiệm điện năng ở những máy có tải
biến đổi theo tốc độ. Với sự phát triển của ngành điện - TĐH trong nông nghiệp,
hy vọng hệ thống điều khiển tiên tiến và hiện đại dần dần sẽ được sử dụng ngày
càng nhiều trong sản xuất để góp phần tiết kiệm tài nguyên cho đất nước.
(Theo Hiện Đại Hóa)
|